Hổ Trợ Trực Tuyến
Hotline
  • Phone 02923 782 225
  • Hotline 0901 060 279
  • Email atc.aqua@gmail.com
Yahoo
Skype
  • Kim Ngọc Kim Ngọc
Video Clip
  • VIDEO GIỚI THIỆU CÔNG TY
  • Clip Phỏng vấn Bạc Liêu
Bệnh và điều trị
TỈ LỆ KHÁNG THUỐC CỦA VIBRIO SPP
Cập nhật ngày 26/09/2016
Từ khóa: Vibrio, kháng kháng sinh, thủy sản, tỉnh Tiền Giang.
ABSTRACT
Prevalence and antibiotic resistance pattern of Vibrio spp. isolated from aquaculture and environment in Tien Giang province .
This study is to survey the prevalence and antibiotic resistance pattern of Vibrio spp isolated from the aquaculture and its environment in Tien Giang, Viet Nam. 501 samples including 311 water and 190 aquaculture samples were collected and analyzed. The results showed 161 water and 82 aquaculture samples infected with 8 Vibrio species in which V.parahaemolyticus, V. mimicus, V. alginolyticus were abundant. There were 96,7% of Vibrio strains resisting to at least one antibiotic, 18,1% of the strains expressing multiple antibiotic resistance.
Keywords: antibiotic resistance, Vibrio, aquaculture, Tien Giang province.
1. Mở đầu
Kháng sinh đang được sử dụng rất rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản với nhiều mục đích như kích thích sự tăng trưởng, phòng bệnh, điều trị bệnh. Việc sử dụng kháng sinh rộng rãi và lâu dài dẫn đến hiện tượng kháng kháng sinh của vi khuẩn. Những vi sinh vật đã kháng được kháng sinh có thể truyền gen kháng kháng sinh từ thế hệ này sang thế hệ khác (chuyển gen theo chiều dọc) hoặc chuyển gen kháng kháng sinh từ loài vi sinh vật này sang loài vi sinh vật khác (chuyển gen theo chiều ngang). Do đó, hiện tượng kháng kháng sinh xảy ra ở vi khuẩn là một hiện tượng tự nhiên. Đặc tính kháng kháng sinh của các vi sinh vật trong môi trường nước nuôi trồng thủy sản có được là do kháng sinh được sử dụng trong quá trình điều trị bệnh cho thủy sản, một số kháng sinh được trộn vào thức ăn thủy sản, khi đó  kháng sinh này sẽ tồn  tại  trong cơ  thể thủy sản và các sản phẩm chế biến từ thủy sản. Khi động vật hoặc con người ăn các loại thực phẩm này, lượng kháng sinh đó sẽ được chuyển vào cơ thể với liều lượng thấp sẽ tạo cơ hội cho các vi sinh vật gây bệnh cho  người  kháng lại  kháng sinh này, làm giảm hiệu quả điều trị khi bị bệnh, ảnh hưởng tới sức khỏe của động vật và con người. Ngoài ra, dư lượng kháng sinh còn tồn dư trong cơ thể thủy sản khi ăn  thức ăn  trộn kháng sinh quá mức quy định sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất  và xuất  khẩu  thủy sản, gây thiệt hại khá lớn về mặt kinh  tế.
Tiền Giang là một trong những địa phương có mô hình nuôi cá bè trên sông phát triển mạnh nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Toàn tỉnh có hơn 1500 lồng bè, tập trung ở cồn Thới Sơn, Tân Long (Thành Phố  Mỹ Tho) và một  số khu vực ven  sông  Tiền của huyện Châu Thành, Cai Lậy, Cái bè. Trong quá trình nuôi các loại thủy sản, người dân thường sử dụng rất nhiều loại kháng sinh vào  các mục đích như chữa bệnh  hay phòng bệnh. Trong đó, vi khuẩn Vibrio gây bệnh  cho  động  vật  thủy sản  là đối tượng được người nuôi đối phó bằng kháng sinh rất nhiều. Việc sử dụng kháng sinh thường mang tính tự phát, không theo chỉ dẫn của chuyên gia hoặc cơ quan chức năng. Điều này dẫn đến sự kháng kháng sinh và điều trị bệnh không hiệu   quả.
Với mục đích khảo sát tình hình nhiễm Vibrio spp. trong nước nuôi và thủy sản thương phẩm, đồng thời khảo sát mức độ kháng kháng sinh của chúng, đề tài tiến hành phân lập và khảo sát tính kháng thuốc trên 311 mẫu nước nuôi và 190 mẫu thủy sản thương phẩm tại tỉnh Tiền  Giang.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên  cứu
Vật liệu
Đối tượng nghiên cứu
Các chủng Vibrio phân lập từ mẫu thủy sản thương phẩm và mẫu nước nuôi tại   ao
ở tỉnh Tiền Giang.
9 loại kháng sinh thường được người dân sử dụng trong phòng và trị bệnh cho
động vật thủy sản.
Môi trường và hóa chất sử dụng nghiên  cứu
Dung dịch pepton muối kiềm (pepton 20g, NaCl 20g, nước cất vừa đủ 1 lít). Môi trường Thiosulphate Citrate Bile Sucrose Agar –TCBS (Pepton 10g, Cao nấm men 5g, Natri citrate 10g, Natri thiosulfate 10g, Mật bò khô 8g, Natri clorid  10g,  Ferric  amonium citrate 1 g, Saccharose 20g, Xanh thymol 0,04g, Xanh bromothymol 0,04g, Agar 15 g, nước cất đủ 1 lít). Môi trường TSAT (Casein peptone 15g, Soya peptone 5    g, Sodium chloride 15g, NaCl 10g, nước cất vừa đủ 1 lít). Môi  trường  TSA  15g, phytone peptone 5g, NaCl l5g, nước cất vừa đủ 1 lít, bổ sung thêm 2%   agar.
Các môi trường trên được hấp khử trùng ở 121oC, 15 phút trước khi sử   dụng.
Các hóa chất và môi trường cho xác định chủng Vibrio theo SMEWW 9260  H: 2005 “Phát hiện Vibrio cholerae trong nước” và theo “ISO/TS 21872-1,2: 2007 “Phát hiện các loài Vibrio spp. trong thực  phẩm”
Các đĩa kháng sinh là những đĩa giấy vô khuẩn có đường  kính  6mm được tẩm dung dịch kháng sinh với nồng độ tiêu chuẩn. Đĩa kháng sinh được bảo quản trong các ốngcóchứachấtchốngẩmởnhiệtđộthấp4–8oC.Cáckhángsinhsửdụngtrongđề
tài là: Tetracyline, Cefotaxime, Cefepime, Imipenem, Gentamycin và Ceftazidime, Ciprofloxacin, Amikacin và  Ampicillin.
Phương pháp nghiên cứu
                  Phương pháp thumẫu
Mẫu nước: Dùng chai đã được hấp khử trùng ở 1210C, 15 phút và có bổ sung  0,1mL dung dịch 1,8% sodium thiosulfate (Na2S2O3.5H2O) vào bình  trước  khi  khử trùng. Chọn 05 vị trí thu mẫu khác nhau trên một ao. Mẫu được bảo quản cùng với đá khô, không được để đá khô tiếp xúc trực tiếp với mẫu  và vận chuyển nhanh  về phòng  thí nghiệm để phântích.
Mẫu thực phẩm thủy sản: Dùng dao, kéo vô trùng cho mẫu vào  trong dụng cụ  chứa vô trùng, khối lượng mẫu cần thu ít nhất là 100g. Mẫu bảo quản trong thùng được làm lạnh bằng đá khô, tránh việc đá khô tiếp  xúc trực tiếp  với mẫu. Mẫu được chuyển  vềphòngthínghiệmvàtiếnhànhphântíchchậmnhấtlà12giờsaukhithumẫu,hoặc
trữ trong tủ lạnh – 200C đến khi phân  tích.
                  Phương pháp phân lập và xác định Vibrio  spp.
Thực hiện phương pháp nuôi cấy truyền thống gồm các bước tăng sinh, tăng sinh chọn lọc, phân lập và thử nghiệm các đặc tính sinh hóa. Sau đó tham chiếu  theo SMEWW 9260 H: 2005 – “Phát hiện Vibrio cholerae trong nước” và theo “ISO/TS 21872-1,2: 2007 “Phát hiện các loài Vibrio spp. trong thực phẩm” để xác  định  loài Vibrio có trong mẫu.
Vibrio được phân lập trên môi trường chọn lọc thứ nhất TCBS. Các loài Vibrio được phân biệt bằng đặc điểm các kiểu khuẩn  lạc  khác nhau thể hiện qua sự lên men   của sucrose. Trên môi trường TCBS: V. cholerae V. alginolyticus lên men đường sucrose nên các khuẩn lạc có màu vàng, ngược lại V. parahaemolyticus V. vulnificus không thể lên men sucrose nên khuẩn lạc có màu  xanh.
                  Khảo sát kháng sinh đồ theo phương pháp Kirby –  Bauer
Dựa trên nguyên tắc đặt đĩa giấy đã tẩm kháng sinh với một hàm lượng theo quy định lên môi trường thạch dinh dưỡng đã trải vi khuẩn. Trong quá trình ủ, kháng sinh khuếch tán ra môi trường và ức chế vi khuẩn dẫn đến tạo thành vòng vô khuẩn xung quanh đĩa kháng sinh. Đo đường kính vòng vô khuẩn và dựa vào tiêu chuẩn so sánh để xác định được vi khuẩn kháng, nhạy hay trung gian đối với kháng  sinh  thử nghiệm.  Môi trường sử dụng thực hiện kháng sinh đồ trong nghiên cứu này là Mueller Hinton Agar (MHA). Vi khuẩn thử nghiệm là những dòng thuần khiết và đang ở   lứa cấy không
quá 24 giờ, sinh khối khoảng  108CFU/mL.
3. Kết quả và thảo luận
Phân lập và xác định các chủng Vibrio  spp.
Mẫu nước trong ao nuôi và thủy sản thương phẩm được thu nhận tại Cái Bè tỉnh Tiền Giang, được phân tích tại phòng Vi sinh. Mẫu được đồng nhất và tăng sinh trong môi trường muối kiềm, sau đó được nuôi cấy trên môi trường chọn  lọc TCBS  vat  TSAT. Các khuẩn lạc nghi ngờ trong hai môi trường này được nuôi cấy phục hồi trên TSA chứa 1% NaCl, sau đó được nuôi cấy khẳng định trong các môi trường sinh   hóa.
Hình 1. Hình thái khuẩn lạc các chủng Vibrio spp. trên môi trường chọn lọc
A: Khuẩn lạc V. cholerae trên môi trường TCBS; B: Khuẩn lạc V. parahaemolyticus
trên môi trường TCBS; C: Khuẩn lạc V. vulnificus trên môi trường TCBS; D: Khuẩn  lạc
V. parahaemolyticus trên môi trường TSAT.
Sau khi phát hiện vi khuẩn và định danh bằng các thử nghiệm sinh  hóa, kết quả  cho thấy trong 501 mẫu nước và thủy sản thương phẩm có  243  mẫu  xuất hiện  Vibrio. Có 8 loài Vibrio được định danh. Các loài này hiện diện với tần số  khác nhau  trong  mẫu. Hình ảnh khuẩn lạc Vibrio spp. mọc trên môi trường chọn  lọc được minh  họa  trong hình 1.
Tỉ lệ các chủng Vibrio spp. phân lập  được
Bảng 1 cho thấy tỉ lệ các chủng phân lập trên 501 mẫu. Trong đó, chủng V. parahaemolyticus gây bệnh xuất huyết, lở loét cho cá và bệnh gan tụy cấp cho tôm xuất hiện nhiều nhất (70/501). Đặc biệt, loài này xuất hiện trong cá thương phẩm là 29/190 mẫu thủy sản khảo sát, chiếm tỉ lệ 15,3%, cao hơn so với trong mẫu nước (41/311),  chiếm 13,2%, kế đến là V. mimicus (43 mẫu) và V. alginolyticus (39 mẫu). Loài V. metschnikovii hiện diện rất ít, chỉ 6 mẫu trên 501 mẫu phân   tích.

 

Các loài Vibrio phân lập được

Số chủng phát hiện

Tổng mẫu phát hiện

Mẫu nước

Sản phẩm thủy sản

V. mimicus

24

19

43

V. parahaemolyticus

41

29

70

V. alginolyticus

29

10

39

V. furnissii

16

4

20

V. cholerae

17

9

26

V. fluvialis

12

5

17

V. vulnificus

16

6

22

V. metschnikovii

6

0

6

Số mẫu phát hiện/số mẫu kiểm tra

161/311

82/190

243/501

 
Kết quả nghiên cứu không phát hiện vi khuẩn V. harveyi gây bệnh phát sáng trên tôm hay V. carchriae tại vùng nghiên cứu. Hai loại vi  khuẩn này hiện diện  trong ao  nuôi tôm ở Cần Thơ đã được báo cáo trước đây [1],  [2].  Đề tài này cũng không phát hiện V. anguillarum gây nhiễm trùng máu cá. Trong các nghiên cứu về thành phần loài Vibrio gây bệnh trên tôm của tác giả Hoàng Oanh [2] và Tuyết Hoa [4] không thấy xuất hiện V. metschnikovii, nhưng được tìm thấy trong nghiên cứu  loài này trên  cá  da trơn [6]. Như vậy có thể thấy loài vi khuẩn này hiện diện chủ yếu trên cá mà chưa thấy trên tôm.
Khảo sát tình hình kháng kháng sinh của các chủng Vibrio   spp.
Tình hình kháng kháng sinh của các chủng Vibrio  spp.
Điều đáng lưu ý là trong 243 chủng Vibrio spp. thì có đến 235 chủng kháng với ít nhất một loại kháng sinh trong 9 loại kháng sinh khảo sát,  chiếm tỉ  lệ rất  cao  đến 96,7%. Kết quả này đối lập với kết quả của Hồ Ngọc Thi, 2009 [5] khi cho rằng tất cả chủng vi khuẩn Vibrio spp. phân lập ở Cần Thơ, Trà Vinh và Bến Tre đều nhạy với các loại thuốc kháng sinh; đặc biệt là không phát hiện  vi  khuẩn  kháng  với tetracycline trong khi có đến 50/235 chủng Vibrio kháng với tetracyclin tại khu vực Cái Bè trong nghiên cứu này.
Bảng 2. Sự đề kháng kháng sinh của 235 chủng Vibrio  spp.

 

 

 

Loại kháng sinh khảo sát

Số lượng chủng kháng từng loại kháng sinh

 

V.mimicus

 

V. parahaemolyticus

 

V. alginolyticus

 

V. furnissii

V. cholerae

 

V. fluvialis

V. vulnificus

V. metschnikovii

 

Tổng

 

Số chủng

 

Tỉ lệ %

Tetracyline

7

26

4

1

6

2

3

1

50

20,6

Cefotaxime

7

15

9

0

2

1

1

0

35

14,4

Imipenem

18

39

18

9

10

4

6

0

104

42,8

Cefepime

5

3

4

2

3

3

4

0

24

9,9

Ceftazidime

4

4

4

0

0

0

3

0

15

6,2

Gentamicin

4

5

5

1

1

1

0

0

17

7,0

Amikacin

10

16

10

1

6

3

4

0

50

20,5

Ampiciline

19

32

11

8

12

6

5

2

95

39,0

 
Một số nghiên cứu trước đây có kết quả tương tự với nghiên cứu này. Mức độ kháng kháng sinh của các chủng Vibrio phân lập trong môi trường và mẫu cá da trơn ở    5 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long cũng ở mức cao, trong đó có 90% số chủng kháng với   ít nhất một loại kháng sinh khảo sát [12]. Mức độ kháng kháng sinh  cũng  rất  cao (97,8%) được báo cáo bởi Chikwendu gần đây, cho thấy 157 dòng Vibrio từ nước nuôi  thủy sản đều kháng với ít nhất một loại kháng sinh trong 6 loại kháng sinh khảo sát gồm Mezlocillin, Doxycycline, Tetracycline,  Carbenicillin, Ampicillin và Kanamycin.   [3]
Kết quả ở bảng 2 cho thấy rằng, trong tất cả 235 chủng Vibrio spp. kháng kháng sinh, có 104 chủng kháng Imipenem, chiếm tỉ lệ cao nhất (42,8%); 95 chủng kháng Ampicillin (39%).
Tỉ lệ kháng Ampicillin ở nghiên cứu này tương đối thấp so với các báo cáo trước đây. Theo các tác giả có đến 90% số chủng Vibrio spp. từ thủy sản ở Brazil kháng với Ampicillin [8], 97,2%  chủng Vibrio spp. ở Iran  kháng Ampicillin [10], hay 90% dòng  vi khuẩn phân lập từ cá da trơn tại Đồng Bằng Sông Cửu Long kháng với Tetracycline, 76% kháng với Ampicillin. [6]
Tỉ lệ các chủng kháng với Cefepime, Gentamycin và Ceftazidime tương đối thấp, lần lượt là 9,9%; 7% và 6,2%. Trong khi những nghiên cứu khác cho thấy tỉ lệ chủng kháng Gentamycin là rất cao: 93% ở Nigeria [9], 83,3% ở Iran  [10].  Đây là những  kháng sinh chưa được sử dụng phổ biến tại khu vực khảo sát, chưa được các nhà phân phối thuốc thủy sản giới thiệu rộng rãi. Đó là lí do chính giúp các kháng sinh này còn  khả năng tác dụng với vi khuẩn.
Một phát hiện đáng chú ý trong nghiên cứu này là 100% số chủng phân lập được nhạy hoàn toàn với Ciprofloxacin, MIC cao nhất của tất cả các chủng là 1 µg/mL). Đây là thuốc kháng sinh bán tổng hợp, có phổ kháng khuẩn rộng, thuộc thế hệ thứ hai nhóm fluoroquinolon có khả năng ức chế DNA gyrase làm ngăn sự sao chép nhiễm sắc thể của vi khuẩn. Ciprofloxacin có tác dụng tốt với các vi khuẩn kháng lại kháng sinh thuộc các nhóm khác (aminoglycosid, cephalosporin, tetracycline, penicillin...) và được coi là một trong những thuốc có tác dụng mạnh nhất trong nhóm fluoroquinolon. Chính vì hiệu quả diệt khuẩn của kháng sinh này nên người dân sử dụng nó ngày càng nhiều trong nuôi trồng thủy sản.
Tuy nhiên, những nghiên cứu khác trên thế giới cho thấy Vibrio spp. phân lập từ thủy sản có kháng với Ciprofloxacin. Theo Goutam Chowdhury et al, [11] có 50% trên 400 dòng Vibrio spp. được phân lập kháng với Ciprofloxacin. Một khảo sát ở Brazil cũng cho thấy số chủng kháng trung gian đến kháng Ciprofloxacin đang gia tăng. [7]
Do vậy, mặc dù Ciprofloxacin được xem là kháng sinh mạnh, nhưng nếu sử dụng kháng sinh này không đúng cách, sẽ có nguy cơ xuất hiện vi khuẩn kháng lại nó. Phát hiện này giúp các cơ quan chức năng tăng cường quản lí việc phòng trị bằng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản tại huyện Cái Bè, Tiền Giang nói riêng và các khu vực khác nói chung.
Kết quả đề tài cũng cho thấy việc dùng thuốc kháng sinh trong thủy sản với số lượng lớn hoặc trong thời gian dài sẽ để lại sự tồn lưu trong môi trường gây nên sự đề kháng của vi khuẩn, điều này dễ làm phát sinh nhiều chủng vi khuẩn kháng thuốc. Khi vi khuẩn có yếu tố kháng thuốc không chỉ truyền cho vi khuẩn cùng loài mà còn truyền giữa các loài với nhau, từ những loài được báo cáo nhạy với kháng sinh trước đây trở nên kháng thuốc với hàm lượng ức chế tối thiểu ngày càng tăng. [10]
 Khả năng xuất hiện Vibrio siêu kháng kháng sinh trong môi trường và trong thủy sản thương phẩm.
Kết quả đề tài cho thấy có 51% số chủng Vibrio phân lập được kháng với 1 loại kháng sinh; 30,8% kháng với 2 loại kháng sinh. Đặc biệt, có 44/243 chủng vi khuẩn phân lập có hiện tượng đa kháng kháng sinh (kháng từ 3 loại kháng sinh trở lên), chiếm tỉ lệ 9% tổng số chủng kháng. Kết quả này khác với báo cáo của Nguyễn Ngọc Thi, 2009, khi thấy rằng không có vi khuẩn Vibrio spp. được phân lập từ Cần Thơ, Trà Vinh và Bến Tre có dấu hiệu đa kháng thuốc. Tuy nhiên nó phù hợp với nghiên cứu của Đặng Thị Hoàng Oanh, 2006 khi cho rằng có xuất hiện một số chủng
V. parahaemolyticus kháng được 4 loại, thậm chí 6 loại kháng sinh.
Do chỉ có 6 chủng thuộc loài V. metschkovii được phát hiện nên không thống kê được tỉ lệ đa kháng. Riêng loài V. fluvialis không thấy xuất hiện chủng đa kháng trong 22 chủng được phát hiện. Sáu loài còn lại đều có những chủng kháng 3 loại kháng sinh trở lên.
Bảng 3. Sự đa kháng kháng sinh của Vibrio spp.

 

 

Số chủng kháng nhiều loại kháng sinh

V.mimicus

 

V.parahaemolyticus

 

V.alginolyticus

 

V.furnissii

 

V.cholerae

 

V.fluvialis

 

V.vulnificus

 

Tng

 

2 loại

16

32

9

5

6

6

1

75

Số loại

3 loại

7

6

4

1

2

0

2

22

kháng

4 loại

2

8

4

0

2

0

1

17

sinh

5 loại

1

3

0

0

0

0

0

4

 

6 loại

0

1

0

0

0

0

0

1

Tổng chủng kháng

43

70

39

20

26

17

22

237

 
Trong nghiên cứu này cũng phát hiện 1 chủng V. parahaemolyticus kháng được 6 loại kháng sinh, 3 chủng kháng được 5 loại kháng sinh, 8 chủng kháng được 4 loại và 6 chủng kháng được 3 loại kháng sinh (bảng 3).
Ngoài V. parahaemolyticus có nguy cơ xuất hiện chủng siêu kháng kháng sinh, một số loài cũng xuất hiện chủng đa kháng kháng sinh như V. mimicus (có 2 chủng kháng 4 loại và 1 chủng kháng 5 loại trên 43 chủng), V. alginolyticus (có 4 chủng kháng 4 loại trên 39 chủng). Trong những tổ hợp 4 kháng sinh bị kháng, đều thấy sự hiện diện của Ampicillin và Amikacin. Trong tổ hợp từ 4-6 kháng sinh bị kháng có 85% tổ hợp có Imipenem. Ngoài ra, còn có sự hiện diện của Cefotaxim, Cefepime, Ceftazidime và Tetracyclin trong những tổ hợp này. Một chủng V. parahaemolyticus kháng với 6 loại kháng sinh là Imipenem, Cefotaxim, Cefepime, Ceftazidime, Amikacin và Ampicillin. Những kháng sinh này thuộc các họ khác nhau. Mặc dù không thử nghiệm khả năng sinh beta-lactamase hay gen NDM-1, nhưng biểu hiện của các chủng đa kháng có thể được tiên đoán rằng có khả năng xuất hiện của vi khuẩn siêu kháng. Như vậy, với tình trạng sử dụng kháng sinh không được kiểm soát tốt, sự xuất hiện của vi khuẩn đa kháng, siêu kháng hoàn toàn có thể xảy ra.
Kết quả về tính đa kháng của nghiên cứu này còn thấp so với những nghiên cứu trước đây. Adeyemi et el, 2008 đã khảo sát tính kháng kháng sinh của 44 chủng Vibrio phân lập từ thủy sản và nước nuôi ở Lagos, Nigeria. Kết quả cho thấy rằng 44/44 chủng kháng với 4 loại kháng sinh (Amoxicillin, Augmentin, Chloramphenicol và Nitrofurantoin). 8 chủng (18%) kháng với 10 loại kháng sinh (Gentamycin, Nitrofurantoin, Tetracycline, Augmentin, Chloramphenicol, Amoxycilin, Ofloxacin, Cotrimozazole, Ceftriazone, và Ciprofloxacin). [8]
Báo cáo của Manjusha et al, 2005 về tính đa kháng của 119 chủng Vibrio cũng cho thấy có đến 55,5% kháng với 4-10 loại kháng sinh, 14,14% kháng với hơn 10 loại kháng sinh khảo sát. [9]
4. Kết luận
Trong 501 mẫu khảo  sát, đề tài đã phân lập được 243  chủng Vibrio  hiện diện  trong  mẫu,   thuộc  8   loài.  Trong   đó   có   43  chủng  là  V.    mimicus,   70   chủng     là
V.  parahaemolyticus, 39 chủng là V.  alginolyticus, 20 chủng là V.  furnissii, 26 chủng là
V.    cholerae,  17   chủng   là  V.    fluvialis,   22   chủng  là  V.    vulnificus  và  6   chủng   là
V.  metschnikovii.
Đã phát hiện 235/243 (96,71%) chủng Vibrio có khả năng kháng với ít nhất một loại kháng sinh khảo sát, tỉ lệ này là rất cao so với những nghiên cứu trước đây. Trong đó, có 51% số chủng kháng với 1 loại kháng sinh, 30,8% số chủng kháng với 2 loại, và có đến 18,2% số chủng có hiện tượng đa kháng kháng sinh. Đáng chú ý là có 1 chủng V. parahaemolyticus kháng đến 6 loại kháng sinh, dự đoán sự xuất hiện vi khuẩn siêu  kháng.
Trong 9 loại kháng sinh khảo sát, 100% Vibrio nhạy với  Ciprofloxacin. Tỉ lệ  kháng cao nhất là 42,8% số chủng kháng với Imipenem, kế đến là 39% số chủng kháng Ampicillin. Cefepime, Gentamycin và Ceftazidime có tỉ lệ chủng kháng thấp từ   6-9%.
Như vậy, tỉ lệ hiện diện của Vibrio spp. trong thủy sản và nước nuôi rất cao (48,5%). Nhìn chung, việc sử dụng kháng sinh lâu dài trị bệnh cho người và các hoạt động khác có thể làm ô nhiễm hệ thống nuôi trồng thủy sản và ảnh hưởng đến sự  gia  tăng vi khuẩn kháng kháng sinh trong môi trường. Vì vậy, các cơ quan quản  lí  cần  thông tin rộng rãi tình trạng kháng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản tại Tiền Giang nói riêng và các địa phương khác nói chung, giúp các cơ quan chức năng, trung tâm khuyến  nông khuyến cáo người dân cách sử dụng kháng sinh phù hợp trong phòng và    trị bệnh cho động vật thủy  sản.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. GARP - Nhóm nghiên cứu Quốc gia của Việt Nam (2010), Phân tích thực trạng: Sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh ở Việt Nam.
2. Đặng Thị Hoàng Oanh, Đoàn Nhật Phương, Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Thanh Phương (2006), “Xác định vị trí phân loại và khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Vibrio phát sáng phân lập từ hậu ấu trùng tôm sú (Penaeus monodon)”, Tạp chí nghiên cứu khoa học, tr.42 – 52.
3. C. I. Chikwendu, S. N. Ibe and G. C. Okpokwasili (2014), “Multiple Antimicrobial Resistance in Vibrio spp. Isolated from River and Aquaculture Water Sources in Imo State, Nigeria”. British Microbiology Research Journal 4 (5): 560-569.
4. Trần Thị Tuyết Hoa, Nguyễn Thị Thu Hằng, Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh Phương (2004), “Thành phần loài và khả năng gây bệnh của nhóm vi khuẩn Vibrio phân lập từ hệ thống ương tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii)”, Tạp chí Khoa học Đại học Cần Thơ, tr.153-164.
5. Nguyễn Phước Tương, Trần Diễm Uyên (2000), Sử dụng thuốc và biệt dược thú y tập 1: 326-328.
6. Samira Sarter, Hoang Nam Kha Nguyen, Le Thanh Hung, Jérome Lazard, Didier Montet (2007), “Antibiotic resistance in Gram-negative bacteria isolated from farmaed catfish”, Food Control 18, 1391-1396.
7. Ligia Maria Rodrigues de Melo; Dulce Almeida; Ernesto Hofer; Cristhiane Moura Falavina  dos Reis; Grace  Nazareth Diogo  Theophilo; André  Felipe  das  Mercês
Santos; Regine Helena Silva dos Fernandes Vieira (2011), “Antibiotic resistance of Vibrio parahaemolyticus isolated from pond-reared litopenaeus vannamei marketed in Natal, Brazil”. Brazilian Journal of Microbiology, 42: 1463-1469.
8. Adeyemi, Adeleye, Enyinnia, Vivian, Nwanze, Rita, Smith, Stella and Omonigbehin, Emmanuel (2008), “Antimicrobial susceptibility of potentially pathogenic halophilic Vibrio species isolated from seafoods in Lagos, Nigeria African Journal of Biotechnology”, 7 (20): 3791-3794.
9. Manjusha., Sarita G.B., Elyas K.K and Chandrasekaran M, (2005), “Multiple Antibiotic Resistances of Vibrio Isolates from Coastal and Brackish Water Areas”. American Journal of Biochemistry and Biotechnology, 1 (4): 193-198.
10. Raissy M.; Moumeni M.; Ansari M.; Rahimi E (2012), “Antibiotic resistance pattern of some Vibrio strains isolated from seafood” Iranian Joural of Fisheries Sciences” 11 (3): 618-626.
11. Goutam Chowdhury, Gururaja P. Pazhani, Devarati Dutta, Sucharita Guin, et al. (2012), “Vibrio fluvialis in Patients with Diarrhea, Kolkata, India, Emerging Infectious Diseases” 18 (11):1868-1871.
12. Phuong, N. T., Oanh, D. T. H., Dung, T. T., & Sinh, L. X (2005), “Bacterial resistance to antimicrobials use in shrimps and Wsh farms in the Mekong Delta, Viet Nam”. In Proceedings of the international workshop on antibiotic resistance in Asian aquaculture environments. Chiang May, Thailande. ISBN 88-901344-3-7.
(Ngày Tòa soạn nhận được bài: 02-01-2015; ngày phản biện đánh giá: 06-01-2015; ngày chấp nhận đăng: 12-02-2015)